Tác hại và những điều cần biết về thủy ngân

Thứ hai - 20/02/2017 10:21
Thủy ngân (Hg) với tính chất lỏng và có ánh kim, đã được một thầy thuốc người Hy Lạp đặt cho cái tên “nước bạc”. Theo tiếng Latinh, kim loại này có tên là hydrargyrum. Ở châu Âu, nó lại được lấy theo tên của một vị thần La Mã - thần Mercury. Thủy ngân được sử dụng trong các nhiệt kế, áp kế và các thiết bị khoa học khác. Thủy ngân thu được chủ yếu bằng phương pháp khử khoáng chất thần sa (HgS).
 
1
(nguồn internet)
Hàng ngàn năm trước con người đã biết đến thủy ngân và nhiều người cho rằng thủy ngân là một loại thần dược giúp con người trường sinh bất lão, chữa lành vết thương và duy trì sức khỏe.
Trong nhiều tài liệu cổ, người ta đã đề cập đến tác dụng chữa bệnh của thủy ngân. Các thầy thuốc thời xưa mô tả cách họ điều trị bệnh nhân bị xoắn ruột bằng cách rót một lượng thủy ngân chừng hơn 200g vào dạ dày người bệnh. Họ cho rằng “nước bạc” nặng và linh động sẽ luồn lách trong ruột để nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Và hậu quả của cách chữa bệnh theo cảm tính này thế nào, chúng ta đã biết.
Hàng thế kỷ sau đó, thủy ngân vẫn được “trọng dụng” để chữa bệnh. Thủy ngân sử dụng để điều trị bệnh giang mai vào thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh. Trong suốt thế kỷ 19, loại thần dược có tên là “Blue mass” là một dạng thuốc viên thành phần chính là thủy ngân, đã được các thầy thuốc dùng để điều trị các bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng và thậm chí dùng trong việc sinh nở. Cho đến đầu thế kỷ 20, thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hằng năm như là thuốc nhuận tràng và tẩy giun. Hiện nay thủy ngân được sử dụng rất nhiều vào ngành công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất hóa chất.
Thủy ngân tồn tại ở ba dạng: nguyên tố, vô cơ và hữu cơ. Đặc biệt, dạng nào cũng có thể gây ngộ độc và ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
 Người làm việc trong phòng thí nghiệm cần có cách xử trí thích hợp khi nhiệt kế bị vỡ để tránh gây ngộ độc thủy ngân cho bản thân và mọi người xung quanh
Thủy ngân nguyên tố có trong: Nhiệt kế thủy tinh và một số thiết bị y tế; Bóng đèn huỳnh quang; Trám răng
Dạng thủy ngân này ít có hại nhất nếu chạm hoặc nuốt phải vì nó hấp thu rất ít ở đường tiêu hóa, dạ dày. Thủy ngân nguyên tố gây độc cho người rất nhanh sau khi hít vào, nó gây tổn thương đường hô hấp, phổi, gan, hệ thần kinh trung ương. Các triệu chứng ngộ độc thủy ngân nguyên tố bao gồm nôn, khó thở, ho, sưng và chảy máu chân răng. 
Thủy ngân vô cơ có trong: Pin, phòng thí nghiệm hóa học; một số chất khử trùng. Thủy ngân vô cơ thường gây độc khi nuốt phải. Do là chất ăn mòn nên dạng thủy ngân này gây bỏng trực tiếp trên niêm mạc. Nếu thủy ngân vô cơ xâm nhập vào máu, nó sẽ tích lũy ở thận và não, gây tổn thương vĩnh viễn. Một liều lượng lớn có thể làm mất máu, nước do tiêu chảy, suy thận và tử vong. Các triệu chứng phổ biến khi nhiễm độc thủy ngân vô cơ là nóng trong dạ dày, cổ họng, tiêu chảy ra máu và nôn mửa
Thủy ngân hữu cơ có trong: Khói từ than đốt chuyển thành thủy ngân hữu cơ; Một số loại cá, hải sản; Chất khử trùng thimerosal. Thủy ngân hữu cơ có thể gây bệnh nếu hít, nuốt và hấp thụ qua da trong thời gian tiếp xúc dài. Nói cách khác, tiếp xúc một lượng nhỏ thủy ngân hữu cơ mỗi ngày trong nhiều năm có thể gây ngộ độc nhiều năm sau đó. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy tiếp xúc với một lượng thủy ngân hữu cơ methyl thủy ngân trong khi mang thai có thể gây tổn hại vĩnh viễn cho phát triển trí não của thai nhi. Methyl thủy ngân là một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường. Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…Methyl thủy ngân chính là chất gây nên bệnh Minamata - căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau. Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956. Từ năm 1932-1968, công ty Chisso sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào. Năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường.
Vì vậy thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số ôxít có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thăm dò ý kiến

Học công nghệ thực phẩm làm gì, ở đâu?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập23
  • Hôm nay186
  • Tháng hiện tại3,573
  • Tổng lượt truy cập46,713
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây